hệ thống các tác phẩm văn học lớp 12
44.630 lượt xem 3.745 lượt tải

Nguyễn Minh Châu là nhà văn lớn của văn xuôi hiện đại Việt Nam. Từng là cây bút xuất sắc
của nền văn học sử thi thời kháng chiến chống Mĩ, từ sau 1975, Nguyễn Minh Châu lại là nhà
văn tiên phong của sự nghiệp đổi mới, là một trong số nhà văn mở đường tinh anh và tài năng
nhất của văn học Việt Nam (Nguyên Ngọc).
Sáng tác của Nguyễn Minh Châu phản ánh khá trung thành quá trình vận động, phát triển của
văn xuôi Việt Nam đương đại trong một vài thập kỉ trước và sau 1975. Theo Nguyễn Minh
Châu, đó là sự vận động chuyển đổi trong mục đích sáng tác, sau chiến tranh, các nhà văn
Việt Nam đã chuyển từ cuộc chiến đấu cho quyền sống của cả dân tộc sang cuộc chiến đấu
cho quyền sống của từng con người. Sự vận động chuyển đổi ấy được thể hiện rõ nét trong
hai giai đoạn sáng tác của Nguyễn Minh Châu: Từ những tác phẩm mang đậm chất sử thi và
cảm hứng lãng mạn như Mảnh trăng cuối rừng, Dấu chân người lính ca ngợi cái đẹp cái cao
cả, thánh thiện như được bao bọc trong một bầu không khí vô trùng của con người Việt Nam
trong cuộc đấu tranh vệ quốc vĩ đại; sau năm 1975, Nguyễn Minh châu đã hướng sự quan
tâm của mình tới cuộc sống đời tư – thế sự, thể hiện sự thấu hiểu, cảm thông và niềm xót
thương sâu sắc với số phận con người trong cuộc mưu sinh nhọc nhằn, trong hành trình gian
nan, đau khổ kiếm tìm hạnh phúc và hoàn thiện nhân cách.
Chiếc thuyền ngoài xa là một truyện ngắn xuất sắc thuộc giai đoạn sáng tác thời kỳ đổi mới
của Nguyễn Minh Châu, khi nhà văn bắt đầu hướng đến sự quan tâm của mình tới cuộc sống
đời tư – thế sự. Truyện ngắn lúc đầu được in trong tập Bến quê, sau được Nguyễn Minh Châu
lấy làm tên chung cho một tuyển tập truyện ngắn in năm 1987.
II. Phân tích tác phẩm.
Tình huống về nhận thức chân lý nghệ thuật
Phát hiện chiếc thuyền ngoài xa

Tuyệt
đỉnh
ngoại
cảnh

Để làm một bộ lịch phong cảnh, Phùng được
giao nhiệm vụ đi chụp một tấm ảnh cảnh biển
buổi sáng có sương, một tấm ảnh không có
con người. Suốt một tuần kiên nhẫn trên một
vùng biển miền Trung, nơi có phong cảnh thơ
mộng, có sương mù tháng bảy, cũng là chiến
trường xưa, anh vẫn chưa chụp được bức ảnh
nào ưng ý. Chi tiết này đã cho thấy những
phẩm chất đáng quý trọng của một nghệ sĩ có
trách nhiệm với sứ mệnh sáng tạo nghệ thuật,
có ý thức nghiêm túc trong lao động nghệ
thuật – một công việc đòi hỏi tài năng, tâm
huyết và công phu.
Điều kì diệu của nghệ thuật đã bất chợt đến
với Phùng vào một buổi sáng, khi anh nhìn
thấy một chiếc thuyền buồm trên mặt biển
xa: mũi thuyền in một nét mơ hồ lòe nhòe vào
bầu sương mù trắng như sữa có pha chút
màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào.
Trong cảm nhận của Phùng, đó là cái đẹp
tuyệt đỉnh của ngoại cảnh; là cảnh đắt trời
cho quý giá, hi hữu, kì diệu, là bức tranh mực
tàu của một danh họa thời cổ.

Thăng
hoa
cảm
xúc

Cái đẹp đã đem đến những cảm xúc mãnh
liệt, những khoảnh khắc tràn ngập hạnh phúc
cho người nghệ sĩ, anh thấy bối rối, trong trái
tim như có cái gì bóp thắt vào, đó là sự xúc
động vì thấy mình vừa may mắn được tạo hóa
ân thưởng, sự may mắn không có nhiều trong
cuộc đời những người luôn khao khát được
khám phá và sáng tạo cái Đẹp.
Trong giây phút thăng hoa của cảm xúc, thậm
chí nghệ sĩ còn như phát hiện ra bản thân cái
đẹp chính là đạo đức, anh như vừa khám phá
thấy chân lí của sự toàn thiện, khám phá thấy
cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn – đó
là khoảnh khắc con người cảm thấy tâm hồn
mình như được thanh lọc, gột rửa để trở nên
trong sáng, thánh thiện khi đứng trước cái đẹp
trong trẻo của thiên nhiên.

Những xúc cảm này cho thấy tư chất
nghệ sĩ của Phùng, con người có tâm
hồn nhạy cảm, có những rung động
tinh tế trước cái Đẹp.
Đó cũng chính là sự giác ngộ, nhận
thức về sức mạnh kì diệu của cái đẹp,
của nghệ thuật đối với con người, bởi
nói như quan niệm của Dostoiepxki:
“Cái Đẹp cứu rỗi thế giới” – khi đứng
trước cái đẹp, người ta thường không
nghĩ đến cái xấu, cái ác, cái dung tục,
tầm thường của cuộc đời mà để tâm
hồn mình bay bổng hướng thiện.

Nhận
thức về
nghệ
thuật
(cuộc
đời
đa sự)

Trong giây lát, người nghệ sĩ còn k
hám phá thấy chân lí của sự toàn thiện, khám
phá thấy cái khoảnh khắc trong ngần của tâm
hồn” Nói cách khác, trong một khoảnh khắc
của cuộc sống, nghệ sĩ Phùng đã cảm nhận
được cái Chân, cái Thiện của cuộc đời, anh
cảm thấy tâm hồn mình như được gột rửa, trở
nên thật trong trẻo, tinh khôi.

Điều này có nghĩa là cái đẹp đã có
tác dụng thanh lọc tâm hồn con
người. Với tác dụng ấy, cái đẹp
chẳng phải là đạo đức hay sao? Nhà
văn Thạch Lam từng quan niệm
“Văn chương không phải là cách
đem đến cho người đọc sự thoát li
hay sự quên, trái lại văn chương là
một thứ khí giới thanh cao và đắc lực
mà chúng ta có để vừa tố cáo thay
đổi thế giới giả dối, tàn ác vừa làm
cho lòng người thêm trong sạch và
phong phú hơn” và truyện ngắn Chữ
người tử tù của Nguyễn Tuân chi tiết
cuối truyện: Ngục quan cảm động,
vái lạy người tử tù một vái, chắp tay
nói một câu mà dòng nước mắt rỉ vào
ké miệng làm cho nghẹn ngào: kẻ mê
muội xin bái lĩnh giúp ta hiểu rõ hơn
những tác động thẩm mĩ diệu kì của
văn học nói riêng và của nghệ thuật
nói chung đối với tâm hồn con người.

Phát hiện chiếc thuyền gần bờ

Khung
cảnh
đối lập

Ngay khi tâm hồn đang bay bổng trong
những xúc cảm thẩm mĩ, đang tận hưởng cái
khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn thì
người nghệ sĩ nhiếp ảnh đã kinh ngạc phát
hiện ra mọi thứ không đơn giản như mình
thấy. Bước ra từ chiếc thuyền ngư phủ đẹp
như mơ là một người đàn bà xấu xí, mệt mỏi;

Hóa ra đằng sau vẻ đẹp lung linh
kia lại là một nỗi đời nhọc nhằn, đầy
nghịch lí, đầy bi kịch mà nghệ thuật
không phải lúc nào cũng chuyển tải
hết được. Liệu bức ảnh chiếc thuyền
trong sương sớm kia thực sự là một
kiệt tác nghệ thuật như anh mong đợi?

một gã đàn ông to lớn, dữ dằn; một cảnh
tượng tàn nhẫn: gã chồng đánh đập người vợ
một cách thô bạo;... Đứa con vì thương mẹ
đã đánh lại cha để rồi nhận lấy hai cái bạt tai
của bố ngã dúi xuống cát...

Nghệ thuật có giá trị gì khi nó chỉ là
một mảng sáng của cuộc đời được
nhìn từ viễn cảnh? Có thể chấp nhận
một thứ nghệ thuật dù nó đẹp đẽ
huyền ảo đến đâu đi chăng nữa nhưng
lại dửng dưng và lẩn tránh sự thật
cuộc đời?

Cảm
xúc
ngƣời
nghệ sĩ

Chứng kiến những cảnh tượng đó, nghệ sĩ
Phùng kinh ngạc đến thẫn thờ: “Tất cả mọi
việc xảy đến khiến tôi kinh ngạc đến mức,
trong mấy phút đầu, tôi cứ đứng há mồn ra
mà nhìn”. Người nghệ sĩ như chết lặng, không
tin vào những gì đang diễn ra trước mắt. Sở dĩ
nghệ sĩ Phùng trở nên như vậy là vì anh không
thể ngờ rằng đằng sau cái vẻ đẹp diệu kì của
tạo hóa kia lại có cái ác, cái xấu đến không thể
tin được. Vừa mới lúc trước, anh còn cảm thấy
“bản thân cái đẹp chính là đạo đức”, thất
“chân lí của sự toàn thiện” thế mà chỉ ngay
sau đó chẳng còn cái gì là đạo đức là cái toàn
thiện của cuộc đời.

Nguyễn Minh Châu đã gặp gỡ tri kỉ
tiền nhân Nam Cao, người đã từng
hơn một lần để cho các nhân vật thay
lời mình phát ngôn những quan điểm
đúng đắn về nghệ thuật và người làm
nghệ thuật: “Nghệ thuật không phải
là ánh trăng lừa dối càng không phải
là ánh trăng lừa dối. Nghệ thuật có
thể chỉ là tiếng đau khổ kia thoát ra
từ những kiếp lầm than.” (Giăng
sáng) và người làm nghệ thuật phải
“mở lòng ra để đón lấy tất cả những
gì vang động ở đời” (Đời thừa).

Chân
lý nghệ
thuật

Cùng một thời điểm, cùng một người quan
sát, nhưng với hai cự li và góc độ khác nhau,
người nghệ sĩ đã phát hiện ra hai bức tranh
hoàn toàn tương phản: phía sau cái đẹp thánh
thiện trong trẻo của ngoại cảnh lại là sự độc
ác, xấu xa, u tối trong cuộc sống con người.
Nghịch lí đau đớn này sẽ đưa đến những nhận
thức sâu sắc, mới mẻ cho người nghệ sĩ về
cách nhìn với hiện thực cuộc đời.

 Cuộc đời không đơn giản, xuôi
chiều mà chứa đựng nhiều nghịch lí.
Cuộc sống luôn tồn tại những mặt đối
lập, những mâu thuẫn: đẹp – xấu,
thiện – ác. Nghệ thuật vốn nảy sinh từ
cuộc đời những không phải bao giờ
cuộc đời cũng là nghệ thuật. Nhà văn
khẳng định: đừng nhầm lẫn hiện tượng
với bản chất, giữa hình thức bên ngoài
và nội dung bên trong không phải bao
giờ cũng thống nhất; đừng vội đánh giá
con người, sự vật ở dáng vẻ bên ngoài,
phải phát hiện ra bản chất thực sau vẻ
ngoài đẹp đẽ của hiện tượng.

Tình huống về nhận thức về con ngƣời và cuộc sống
Trong đầu vị Bao Công của cái phố huyện vùng biển vốn đầy chữ nghĩa sách vở “có một cái gì
vừa vỡ ra”, “lúc này trông Đẩu rất nghiêm nghị và đầy suy nghĩ”. Cũng như Đẩu, nghệ sĩ
Phùng đã lặng im sau câu chuyện của người đàn bà. Có lẽ người nghệ sĩ nhiếp ảnh cũng đang
trầm ngâm suy nghĩ về người phụ nữ này, về người bạn mình – chánh án Đẩu và về chính
mình?

Phát hiện
về ngƣời
đàn bà

Người đàn bà hàng chài xuất hiện ở tòa án
huyện theo lời mời của chánh án Đẩu – người
có ý định khuyên bảo, thậm chí đề nghị người
đàn bà nghèo khổ ấy từ bỏ lão chồng vũ phu.
Người đàn bà hàng chài đã từ chối lời đề nghị
và sự giúp đỡ của chánh án Đẩu và nghệ sĩ
Phùng. Chị đau đớn đánh đỏi bằng mọi giá để
không phải bỏ lão chồng vũ phu: “Quý tòa
bắt tội con cũng được, bỏ tù con cũng được,
đừng bắt con bỏ nó...”
Chị chấp nhận tất cả: sự đau đớn thể xác, sự
cam chịu nhẫn nhục tinh thần, sự tủi hờn thân
phận. Để có một gia đình trọn vẹn, để con
thuyền gia đình có người chèo lái, để những
đứa con chị có cha, để chúng có những bữa ăn
no mà nếu chỉ có một mình chị không thể
gánh vác được. Niềm vui nhất của người mẹ
nghèo ấy là gì? Là lúc ngồi nhìn đàn con
chúng nó được ăn no. Chỉ vì điều ấy mà chị
chấp nhận “phải có một người đàn ông để
chèo chống lúc phong ba, dù hắn có man rợ

Người đàn bà hàng chài: Cuộc
đời đầy sự bất ngờ không thể lí
giải được, cứ tưởng con người ta
yếu hèn nhu nhược hóa ra lại vô
cùng lớn lao, cao cả; cứ tưởng
con người ta dốt nát, kém hiểu
biết hóa ra lại vô cùng trải
nghiệm. Người phụ nữ ấy đã tỏ ra
rất sâu sắc, thấu tỏ lẽ đời, hiểu
biết cuộc đời và con người hơn
rất nhiều những người vốn tự cho
mình thông tỏ mọi sự trên đời,
cho dù chị tự nhận những suy
nghĩ của mình là cái sự lạc hậu.
Chị hiểu việc mình làm và chấp
nhận cuộc sống ấy chứ hoàn toàn
không phải do dốt nát, lạc hậu
như chị tự nhận. Vì một lẽ nào đó,
con người có khi phải sống trong
bi kịch, buộc phải chấp nhận bi
kịch. Với người đàn bà này, cội

tàn bạo”. Biết mình khổ nhưng người phụ nữ
ấy vẫn âm thầm nhẫn nhục chịu đựng mà
không hề than vãn cho bản thân.
Ngược lại chị còn nhận trách nhiệm về mình:
“nhưng cái lỗi chính là đám đàn bà ở thuyền
đẻ nhiều quá” và thanh minh cho chồng “lão
chồng tôi khi ấy là một anh con trai cục tính
nhưng hiền lành lắm không bao giờ đánh đập
tôi”

rễ của sự cam chịu ấy chính là
tình mẫu tử. Vì chị sống cho
những đứa con, vì chị là một
người mẹ. Một người mẹ không
chỉ biết lo đủ miếng ăn cho con
mà còn muốn con lớn lên đúng
nghĩa một con người, một người
mẹ không muốn làm tổn thương
những tâm hồn non nớt nên âm
thầm một mình xin chồng lên bờ
đánh. Chị biết cách dạy con hơn
nhiều người mẹ khác khi cho con
lên ở với ông ngoại, chị không
giống những người mẹ muốn lôi
kéo con làm đồng minh nên sẵn
sàng kể tội, nói xấu bố chúng.
Người phụ nữ ấy thật vị tha và vô
cùng cao thượng. Trước mắt
Phùng, chị không còn là nạn nhân
để cho công lí và lòng tốt dang
tay cứu vớt. Lòng thương hại ở
Phùng đã nhường chỗ cho sự kính
trọng và niềm khâm phục.

Phát hiện
về chính
mình

Về ngƣời đồng đội cũ – chánh án Đẩu: anh
có lòng tốt, sẵn sàng bảo vệ công lí nhưng
chưa thực sự đi sâu vào đời sống nhân dân.
Lòng tốt là đáng quý nhưng chưa đủ. Luật
pháp là cần thiết nhưng cần phải đi vào đời
sống. Cả lòng tốt và luật pháp đều phải được
đặt vào những hoàn cảnh cụ thể, không thể áp
dụng với mọi đối tượng.

Về chính mình: Mình đã đơn giản khi nhìn
nhận cuộc đời và con người. Chính vì hiểu đời
một cách phiến diện bề ngoài mà anh đã thất
bại thảm hại, hành đông cứu người anh chỉ là
một phiên bản của người đã từng lao vào đánh
nhau với cối xay gió trong trang sách của nhà
văn Xecvantec mà thôi. Lẽ đời hoàn toàn
không đơn giản, con người lại càng bí ẩn,
tưởng xấu lại tốt, tưởng cao cả lại hóa ra thấp
hèn, tưởng tội phạm nhưng lại là nạn nhân
“lẫn lộn người tốt kẻ xấu, rồng phượng rắn
rết, thiên thần và ác quỷ” (Bức tranh).

Lão chồng vũ phu kia hiển nhiên là độc ác
vừa vi phạm pháp luật vừa vi phạm nghiêm
trọng đạo nghĩa phu thê, phải bị người đời lên
án, bị pháp luật trừng trị. Phùng đã từng cho
là như thế. Nhưng lão chồng đó là kẻ tội đồ
hay cũng là một nạn nhân của cuộc sống đói
nghèo và lạc hậu. Tẩy chay lão ra khỏi cuộc
đời người phụ nữ đó có phải là thượng sách?

Tống lão vào tù là làm điều chính nghĩa, đòi
lại sự công bằng, đem lại hạnh phúc cho người
phụ nữ hay không? Hay là lại đẩy chị và cuộc
sống của những đứa con trên chiếc thuyền
mỏng manh kia vào bão tố. Nhưng nếu không
trừng trị lão thì bi kịch tinh thần và thể xác
người phụ nữ và những đứa con đến khi nào
mới có hồi kết? Cuối cùng thì những người
cầm cán cân công lí ở cái làng chài hẻo lánh
này cũng cố tìm được một giải pháp: triệu tập
lão chồng lên để giáo dục. Nhưng xem ra,
Phùng cũng không mấy tin tưởng vào tính khả
thi của giải pháp này.
Trận bão biển và bài học cuộc sống

Không phải ngẫu nhiên mà cuối tác phẩm
Phùng bất ngờ chứng kiến “trời trở gió đột
ngột, từng tảng mây đen xếp ngổn ngang trên
mặt biển đen ngòm, và biển bắt đầu gào
thét”, lại một cơn bão sắp về mà chiếc thuyền
vó bè vẫn chơ vơ trên biển cả mênh mông.

Phải chăng Phùng vẫn canh cánh
một nỗi niềm: những lời giáo
huấn tốt đẹp có làm giảm được
không những gian khó, nhọc
nhằn mà hằng ngày gia đình họ
phải đối mặt, có đem lại cho
những đứa trẻ tội nghiệp kia
những bữa ăn no, có chống chọi
được với những bão táp trên biển
khơi vẫn ngày ngày tiếp diễn?

Đến đây, hiển hiện trước mắt Phùng một thực
tế oái ăm nữa của cuộc sống: Không phải con
người lúc nào cũng đấu tranh với nhau mà
nhiều khi phải chịu đựng lẫn nhau. Những
con người lao động và lương thiện hết đời
này sang đời khác đã chịu bao nhiêu đau khổ

Con đường đi tìm chân lí nghệ
thuật và chân lí cuộc đời của
Phùng có thể coi là một quá trình
đốn ngộ. Kiểu nhân vật này không
phải bây giờ mới xuất hiện. Ở thế
kỉ XIX, trong Chiến tranh và Hòa

và bất công để nuôi sống con cái làm cho đời
sống bất diệt... Giữa các quốc gia với nhau,
trong một gia đình, một cặp vợ chồng, nói
chung là giữa con người với con người không
phải lúc nào cũng sẵn sàng xé toang ra, mỗi
người mỗi ngả, như thế thì còn đâu là cuộc
sống” (lời tâm sự của nhà văn về tác phẩm).

bình của nhà văn Nga Ltônxtôi,
chàng quý tộc Andrây cũng đã
phải trải qua bao nhiêu băn khoăn
trăn trở và giằng xé trong tâm hồn
mới tìm ra chân lí đích thực của
cuộc sống: “cuộc đời ta phản
chiếu lên mọi người, sao cho cuộc
đời ta trôi qua không chỉ mình ta”.

Có 3 vấn đề về cuộc sống mà Phùng đã ngộ ra:
 Cuộc sống không hề giản đơn, một chiều mà có đủ cả trắng đen, tốt xấu, vui buồn;
 Con người cũng vô cùng phức tạp, đó là kiểu người đa trị, lưỡng diện;
 Cái đẹp hoàn toàn không phụ thuộc vào hình thức bề ngoài, không phải cái đẹp lúc
nào cũng phát lộ trên bề mặt mà nó có thể lấp lánh sau lần vỏ ngoài xù sì thô nhám.
Đồng thời Phùng cũng nhận ra các vấn đề quan trọng của nghệ thuật:
 Nghệ thuật phải gắn bó hữu cơ mật thiết với cuộc đời;
 Nghệ thuật khám phá con người ở chiều sâu nhân bản.
Đây chính là quan niệm nghệ thuật về con người, về nghệ thuật và người làm nghệ thuật
của Nguyễn Minh Châu sau 1975.

Hệ thống kiến thức bài Đất Nƣớc – Nguyễn Khoa Điềm

ĐẤT NƢỚC CÓ TỪ BAO GIỜ ?
Cơ bản Mở rộng
– Bằng giọng tâm tình, dịu ngọt như lời
kể truyện cổ tích, Nguyễn Khoa Điềm
đã thể hiện những cảm nhận, suy tưởng
của mình về cội nguồn đất nước bằng
những hình ảnh gần gũi, thân quen,
bằng những câu thơ gợi nhớ đến truyền
thuyết xa xưa, đến nền văn minh lúa
nước sông Hồng, cùng những phong tục
tập quán độc đáo có từ lâu đời. Cụm từ
ngày xửa ngày xưa chỉ thời gian huyền
hồ, hư ảo là nhịp thời gian cổ xưa xa
thẳm để mở đầu những câu chuyện cổ.
Với Nguyễn Khoa Điềm, Đất Nước có
từ rất xa xưa, trong sâu thẳm thời gian,
trong kí tức tuổi thơ hồn nhiên trong
sáng của mỗi cuộc đời. Câu thơ của
Nguyễn Khoa Điềm đã đánh thức trong
lòng người đọc những hoài niệm đẹp đẽ
của một thời thơ dại. Đó cũng chính là
đất nước được cảm nhận trong chiều
sâu tâm hồn nhân dân, văn hoá và lịch
sử:
“Đất nước bắt đầu với miếng trầu bây
giờ bà ăn
Đất nước lớn lên khi dân mình biết
trồng tre mà đánh giặc”
+ Đó là miếng trầu gợi lên từ sự tích vào
loại cổ nhất người Việt “Sự tích trầu
cau” từ đời vua Hùng dựng nước xa
xưa, ngợi ca tình nghĩa vợ chồng, anh

Lịch sử sâu thẳm của đất nước ta được tác
giả cắt nghĩa không phải bằng sự nối tiếp của
các vương triều hay các sự kiện lịch sử trọng
đại như Nguyễn Trãi đã từng viết trong
“Bình Ngô Đại Cáo”:
“Như nước Đại Việt ta từ thuở trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc – Nam cũng khác
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần gây nền độc lập
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên hùng cứ
một phương”
Ngày xưa, bài thơ Nam quốc sơn hà (Lí
Thường Kiệt) phải dùng đến đế cư, thiên thư
để thiêng liêng hóa Đất Nước qua hình ảnh
vua và sách trời. Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc
lại mượn “Một khối xa thư đồ sộ” “Hai
vầng nhật nguyệt chói lòa” để trang trọng
hóa Đất Nước qua những khái niệm trìu
tượng, kì vĩ, cao cả. Thi pháp ước lệ cổ điển
có khả năng tạo ra một khoảng cách thiêng
để thể hiện niềm ngưỡng vọng vô biên của
con người đối với giang sơn Tổ Quốc. Hệ
thống ngôn từ mới mẻ của Nguyễn Khoa
Điềm lại mang một nỗ lực xóa nhòa khoảng
cách để bình dị hóa Đất Nước một cách bất
ngờ, để Đất Nước hóa thân vào cổ tích, ca
dao, dân ca vào đời sống hàng ngày.

em đằm thắm, sắt son đồng thời đánh
thức dậy hình ảnh miếng trầu đã trở
thành biểu tượng của tình yêu, lòng
thủy chung: miếng trầu của cô Tấm,
miếng trầu của Xuân Hương.
+ Đó còn là truyền thuyết Thánh Gióng
nhổ tre đánh đuổi giặc Ân, trở thành bài
ca giữ nước hào hùng của nhân dân đã
trở thành lịch sử đất nước:
Lịch sử lâu đời của đất nước được kết
tinh trong từng câu chuyện kể, trong
miếng trầu bà ăn thường ngày, trong
“cây tre đánh giặc” thân quen quanh ta.
Với cái nhìn độc đáo của
Nguyễn Khoa Điềm, đất nước đã nằm
sâu trong tiềm thức mỗi chúng ta, mỗi
người dân; trong đời sống tâm hồn của
nhân dân từ thế hệ này qua thế hệ khác.
Đất nước còn là phong tục búi tóc
thành cuộn sau gáy rất quen thuộc của
người phụ nữ Việt Nam từ bao đời nay:
+ Đất nước Việt Nam mang vẻ đẹp tâm
hồn con người Việt Nam: tình nghĩa
đậm đà, thuỷ chung son sắt của cha mẹ
“cha mẹ thương nhau bằng gừng cay
muối mặn”.
+ Với người Việt Nam vốn gắn bó lâu
đời với nền văn minh lúa nước, hạt gạo
trở thành gia bảo vô cùng cần thiết cho
cuộc sống. Cho nên ngay khi còn là đứa
trẻ mới lớn, cảm nhận về vật chất đầu
tiên phải là hạt gạo trải qua một quá
trình lam lũ, vất vả kết tinh mồ hôi,
nước mắt của người lao động một nắng

– “Ta như thuở xưa thần Phù Đổng
Vụt lớn lên đánh đuổi giặc Ân
Sức nhân dân khoẻ như ngựa sắt
Chí căm thù ta rèn thép làm roi
Lửa chiến đấu ta phun vào mặt
Lũ sát nhân cướp nước hại nòi”
(Tố Hữu)
Nguyễn Duy đã viết:
“Tre xanh, xanh tự bao giờ
Chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh”
Ca dao cổ:
“Tóc ngang lưng vừa chừng em búi
Để chi dài bối rối lòng anh”
Ý thơ được toát lên từ những câu ca dao đẹp:
“Tay bưng đĩa muối chén gừng
Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau”
Hay:
“Muối ba năm muối đang còn mặn
Gừng chín tháng gừng hãy còn cay
Đôi ta tình nặng nghĩa đầy
Dù ba vạn sáu ngàn ngày cũng chẳng xa”

Hình ảnh thơ của Nguyễn Khoa điềm làm ta
gợi nhớ tới câu ca dao mẹ ru thuở nào:
“Cày đồng đang buổi ban trưa

hai sương xay, giã, dần, sàng, phải suốt
ngày “bán mặt cho đất bán lưng cho
trời”, “dầm mưa dãi nắng” nhân dân ta
mới làm ra được hạt ngọc quý giá ấy.
+ Cha ông ta xưa gắn liền với những
miền quê thuần phác của nền nông
nghiệp thóc gạo với mái lá nhà tranh
nên thường coi việc đặt tên cho con
cũng chỉ bằng cái tên nôm na, dân dã;
có khi lấy từ tên những bộ phận của
ngôi nhà tre gỗ của chính mình đang ở
“cái kèo, cái cột”... Cách cảm nhận cội
nguồn đất nước của Nguyễn Khoa
Điềm thật gần gũi, thân quen mà cũng
không kém phần thi vị, độc đáo, dễ làm
lay động trái tim hàng triệu độc giả.
àTrong đoạn thơ trên, tác giả sử dụng
khéo léo các kiểu cấu trúc thơ “Đất
nước đã có”, “Đất nước bắt đầu”, “Đất
nước lớn lên”, “Đất nước có từ” đã giúp
cho ta hình dung được cả quá trình hình
thành và phát triển của đất nước trong
trường kì lịch sử nằm sâu trong tâm
thức của con người Việt Nam qua bao
thế hệ.
àTrường từ vựng: ông, bà, cha, me gợi
về tình cảm gia đình ruột thịt thân
thương. Đó cũng là khởi nguồn cho đất
nước. Bởi nói như chú Năm “con sông
gia đình cũng chảy về biển, mà biển thì
rộng lắm, rộng bằng nước ta” (Những
đứa con trong gia đình).

Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày
Ai ơi bưng bát cơm đầy
Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn
phần”
- Nếu Nguyễn Đình Thi và Chế Lan Viên
đã tự tạo một khoảng cách nhất định để
chiêm nghiệm về đất nước thì Nguyễn Khoa
Điềm đã nhìn đất nước ở tầm gần. Có lẽ nhờ
xác định được một cự li như thế mà tác giả
Mặt đường khát vọng đã phát hiện ra một
khuôn mặt mới của đất nước mình: dung dị,
đời thường, thậm chí có phần lam lũ nhưng
cũng không kém phần cao cả. Trong khi
Nguyễn Đình thi cảm nhận đất nước ở những
đường nét hoành tráng, Chế Lan Viên nhìn
tổ quốc qua những trang sử hào hùng thì
Nguyễn Khoa Điềm lại lặng lẽ quan sát đất
nước ở muôn mặt đời thường và trong quan
hệ ruột rà, thân thuộc. Đất nước là những gì
bình dị nhất gần gũi và thân quen nhất trong
đời sống hằng ngày của mỗi con người Việt
Nam chúng ta: câu chuyện cổ tích mẹ kể,
miếng trầu bà ăn, những dãy tre làng, bới tóc
của mẹ, gừng cay, muối mặn, cái kèo, cái
tộc, hạt gạo...

ĐẤT NƢỚC LÀ GÌ?

Cơ bản

–Tác giả đã khai thác cách cấu tạo từ tiếng Việt để tách từ Đất Nước thành Đất và Nước
rồi lại hợp nhất trong 1 chỉnh thể thống nhất hài hòa. Cứ thế tách ra rồi hợp lại, hợp lại
rồi tách ra, Đất nước hiện ra vừa cụ thể, riêng tư, gần gũi vừa lớn lao, cao cả, thiêng
liêng:
+ Nếu tách hai ra làm những thành tố ngôn ngữ độc lập thì Đất và Nước chỉ có ý nghĩa
là không gian sinh tồn về mặt vật chát của con người cá thể.
+ Nếu hợp thành một danh từ thì Đất Nước lại có ý nghĩa tinh thần thiêng liêng, chỉ
không gian sinh sống của cả một cộng đồng người như anh em một nhà.
– Về không gian địa lí:
+ Đất Nước với Nguyễn Khoa Điềm trước hết chưa phải là núi sông, rừng bể mà là
không gian riêng tư, sinh hoạt bình thường của mỗi người:
Đất là nơi anh đến trường
Nước là nơi em tắm
+ không gian của tình yêu đôi lứa, không gian của nỗi nhớ thƣơng:
Đất nước là nơi ta hò hẹn
Đất nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm
àĐoạn thơ được viết bằng tư duy vừa giàu chất trữ tình thơ ca, vừa mang tính huyền
thoại vừa thấm đượm một phong vị triết học. Không phải ngẫu nhiên mà Đất tương ứng
với Anh, nước tương ứng với em. Một yếu tố thuộc Âm, một yếu tố thuộc Dương. Khi
nói riêng về từng người thì Đất Nước tách riêng thành 2 chữ. Đất mở ra cho anh chân
trời kiến thức, nước gột rửa tâm hồn em trong sáng dịu hiền. Cùng với thời gian lớn lên,
đấy nước trở thành nơi anh và em hò hẹn khi đó anh với em hợp lại để thành Ta thì Đất
và Nước cũng liền lại với nhau thành Đất Nước. Như vậy tình yêu đôi lứa đã hòa hợp
làm một với tình yêu đất nước, đất nước như người bạn sẻ chia những tình cảm nhớ
mong của những người đang yêu. Chiếc khăn biểu tượng của nỗi nhớ thương – đã từng
làm bao trái tim tuổi trẻ bâng khuâng: khăn thương nhớ ai, khăn rơi xuống đất ... một
lần nữa lại khiến lòng người xúc động bồi hồi trước tình cảm chân thành của những tâm

hồn say đắm yêu đương. Những câu thơ định nghĩa mà cứ rưng rưng những kỉ niệm,
hồi hộp những tâm tình. Sự vỡ tách và nhập ghép hai âm tiết đất và nước gợi lên một
chiều sâu suy tưởng: Đất Nước là sự thống nhất giữa cái chung và cái riêng, cộng đồng
và cá nhân, to lớn và nhỏ bé, hiện thực và huyền thoại
+ Không gian của núi sông rừng bể rộng lớn. Đất nước còn là nơi trở về của những tâm
hồn thiết tha với quê hương. Hình ảnh con chim phƣợng hoàng bay về hòn núi
bạc, con cá ngƣ ông móng nƣớc biển khơi mang âm hưởng dân ca Bình Trị Thiên
thấm đẫm lòng yêu quê hương tổ quốc của tác giả. Đất nước mình bình dị quen thuộc
nhưng cũng rộng lớn, tráng lệ và kì vĩ vô cùng.
+ Đất nước còn là không gian sinh tồn hết sức đời thường của nhân dân qua bao thế hệ:
Những ai đã khuất
Những ai bây giờ
Yêu nhau và sinh con đẻ cái
Gánh vác phần người đi trước để lại ...
– Về thời gian lịch sử:
Đất nước trường tồn trong không gian và thời gian: Thời gian đằng đẵng, không gian
mênh mông để mãi mãi là nơi dân mình đoàn tụ là không gian sinh tồn của cộng đồng
Việt Nam qua bao thế hệ.
Hình ảnh đất nước hiện lên ở cả 3 chiều thời gian: từ quá khứ đến hiện tại và tương lai.
+ Đó là một đất nước thiêng liêng, hào hùng trong quá khứ (gắn với huyền thoại Lạc
Long Quân và Âu Cơ, truyền thuyết về các vua Hùng dựng nước), giản dị, gần gũi
trong hiện tại (Trong anh và em hôm nay – Đều có một phần đất nước) và triển vọng
sáng tươi trong tƣơng lai (Mai này con ta lớn lên – Con sẽ mang đất nước đi xa)
+ Nhắc lại truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ nhắc đến ngày giỗ tổ, Nguyễn Khoa
Điềm muốn nhắc nhở mọi người nhớ về cội nguồn của dân tộc. Dù bôn ba chốn nào,
người dân Việt Nam cũng đều hướng về đất tổ, nhớ về dòng giống Rồng Tiên của mình
+Khi nghĩ về hiện tại, nhà thơ khẳng định một chân lí: Đất Nước phải là sự hài hòa,
gắn bó giữa anh và em và mọi người, giữa cái riêng và cái chung. Đất nước hóa thân và
kết tinh tự nhiên trong cuộc đời mỗi con người, sự sống của mỗi con người không phải
chỉ của riêng cá nhân mà còn thuộc về đất nước vì mỗi cuộc đời, mỗi con người đều
thừa hưởng những di sản văn hóa tinh thần và vật chất của dân tộc. Ý thơ của Nguyễn
Khoa Điềm đã bắt nhịp với ý thơ của Thanh Hải:

Ta làm con chim hót
Ta làm một nhành hoa
Ta nhập vào hòa ca
Một nốt trầm xao xuyến
Như vậy không có gì khó hiểu khi nhà thơ nhìn thấy một phần Đất nước trong mỗi
chúng ta hiện tại. Đất nước không tồn tại ở đâu đó xa xôi mà kết tinh, hóa thân ngay
trong cuộc sống của mỗi con người.
+ Hướng về tƣơng lai của đất nước, Nguyễn Khoa Điềm viết bằng cảm hứng lãng mạn,
Đất Nước trong tương lai sẽ đi xa đến mọi chân trời, sẽ là những ngày tháng mơ mộng
đẹp đẽ.
àTuy là đoạn thơ chính luận nhưng những câu thơ trên không giống những lời giáo huấn
mà chỉ là lời tự nhủ của cá nhân nhà thơ và lớn hơn là của cả thế hệ lúc bấy giờ về bổn
phận đối với Đất Nước. Giọng thơ chân thành, thiết tha nhẹ nhàng như lời thủ thỉ, tâm
tình, nhắn nhủ người yêu mà không cao giọng lên gân. Đặt trong hoàn cảnh sáng tác
bài thơ đó là những lời thơ có giá trị thức tỉnh kêu gọi đấu tranh, kêu gọi hiến dâng 1
phần cuộc đời mình cho Đất Nước.
AI ĐÃ LÀM NÊN ĐẤT NƢỚC (TƢ TƢỞNG ĐẤT NƢỚC CỦA NHÂN DÂN)
Cơ bản Mở rộng

* NHÂN DÂN LÀ NGƢỜI LÀM RA KHÔNG
GIAN ĐỊA LÍ DÂN TỘC:
Tư tưởng đất nước của nhân dân khiến cho những địa
danh ngàn đời của Tổ quốc qua cái nhìn sắc sảo đầy
khám phá của nhà thơ chính là sự hoá thân của những
con người bình dị, vô danh “những con người không
ai nhớ mặt đặt tên” nhưng họ đã làm ra đất nước.
+ Núi Vọng Phu, hòn Trống Mái là kết tinh tình yêu
thuỷ chung của biết bao người vợ chờ chồng trong

Nguyễn Khoa Điềm đã
không lặp lại một thói quan là
nêu lên sự trù phú đẹp tươi
của Đất Nước với
Những cánh đồng thơm mát
Những ngả đường bát ngát
Những dòng sông đỏ nặng
phù sa
(Đất nước – Nguyễn Đình
Thi)

chiến tranh liên miên, của sự gắn kết muôn đời, bất
chấp mọi bão tố của thời gian:
Không hoá thạch kẻ ra đi mà hóa thạch kẻ đợi chờ
Đợi một dáng hình trở lại giữa đơn côi
+ Tác giả không chỉ chiêm ngưỡng những hình ảnh
núi Bút, non Nghiên mà còn nhìn ra trong đó phẩm
chất, truyền thống hiếu học và khát vọng trí tuệ của
dân tộc ta từ bao đời nay. Những núi Bút, non Nghiên
phô bày vẻ đẹp mỹ lệ giữa đất trời nước Việt hay là
hình tượng những người học trò nghèo đã gửi gắm
quyết tâm, ước vọng của mình vào đấy:
Người học trò nghèo góp cho Đất nước mình núi Bút
non Nghiên
+ Nhà thơ đã tìm về cội nguồn để cảm nhận sâu sắc
dáng hình đất nước. Những hình ảnh thân quen của
non sống đất nước gợi lên quá khứ hào hùng với
truyền thống đánh giặc ngoại xâm oanh liệt của nhân
dân ta qua truyền thuyết Thánh Gióng nhổ tre đánh
đuổi giặc Ân:
Ta như thuở xưa thần Phù Đổng
Vụt lớn lên đánh đuổi giặc Ân
Sức nhân dân khoẻ như ngựa sắt
Chí căm thù ta rèn thép thành roi
Lửa chiến đấu ta phun vào mặt
Lũ sát nhân cướp nước hại nòi”

(Tố Hữu)
+ Cùng với sự nghiệp dựng nước đầy gian lao của
vua Hùng:
“Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm
để lại

Hay với những
Rừng cọ đồi chè, đồng xanh
ngào ngạt
Nắng chói sông Lô, hò ô tiếng
hát
Chuyến phà dào dạt, bến
nước Bình Ca
(Ta đi tới – Tố Hữu)
Mở đầu bài thơ Quê hương
Việt Nam, nhà thơ Nguyễn
Đình Thi viết:
Việt Nam đất nước ta ơi
Mênh mông biển lúa đâu trời
đẹp hơn
Cánh cò bay lả dập dờn
Mây mờ che đỉnh Trường Sơn
sớm chiều
Nhà thơ chú ý đến những
miền đất, những địa danh mà
tên gọi đều rất nôm na, dân dã.
Những địa danh, những hình
sông thế núi mang hình người,
linh hồn dân tộc. Chúng là sự
tượng hình kết tinh đời sống
văn hoá tinh thần của nhân
dân mang đậm chủ nghĩa
nhân văn, nhân đạo Việt Nam.

Chín mươi chín con voi góp mình dựng đất Tổ Hùng
Vương”
+ Cho đến “những con rồng nằm im” cũng góp phần
làm nên “dòng sông xanh thẳm”, “con cóc, con gà
quê hương cũng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh”
và cả những địa danh thật nôm na, bình dị “những ông
Đốc, ông Trang, bà Đen, bà Điểm”. Nguyễn Khoa
Điềm đã đặt cái nhìn trân trọng của mình vào nhân
dân không tên không tuổi “những người dân nào”
không ai biết cũng làm nên tên núi, tên sông và tất cả
những cái bình thường trong cuộc sống hàng ngày của
nhân dân cũng hoá thân thành dáng hình xứ sở.
àTính khái quát của hình tượng thơ cứ được nâng dần
lên. Đó là một hình dáng của tư thế truyền thống Việt
Nam, truyền thống văn hiến của dân tộc có bốn nghìn
năm lịch sử. Và ở đâu trên khắp ruộng đồng, gò bãi,
chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống
ông cha. Biết bao nhiêu thế hệ con người Việt Nam
biết sống, biết yêu thương và bỏng cháy khát vọng đã
tạc vào hình sông thế núi những nét đẹp tâm hồn.
Những danh lam thắng cảnh đã trở thành chứng tích
tâm hồn của nhân dân bao đời
Hình tượng thơ càng được nâng dần lên và chốt vào
một câu đầy trí tuệ:
Ôi! Đất nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy
Những cuộc đời đã hoá núi sống ta...

*NHÂN DÂN LÀ NGƢỜI LÀM NÊN LỊCH SỬ
DÂN TỘC:
Đoạn thơ mở đầu bằng hình thức đối thoại, thực chất
đây là dạng phân thân của chủ thể trữ tình:
Em ơi em
Hãy nhìn rất xa

Chính những nét đẹp tâm hồn
đã góp phần hình thành nên vẻ
đẹp tài hoa, khí phách, sự giản

Vào bốn nghìn năm Đất Nước
– Lời lẽ nhắn nhủ nhẹ nhàng dẫn dắt người đọc vào
bốn nghìn năm lịch sử, bốn nghìn năm văn hiến dựng
nước và giữ nước của ông cha ta. Nhà thơ không tái
hiện lịch sử của dân tộc bằng việc điểm lại triều đại
(Đinh, Lí, Trần, Lê) như trong Bình Ngô Đại cáo hay
các anh hùng lưu danh sử sách mà nối kết quá khứ và
hiện tại bằng những ngôn từ người người lớp lớp, bốn
nghìn lớp người, biết bao người con gái con trai .
Qua đó, cảm nhận lịch sử bằng sự nối tiếp các thế hệ
nhân dân. Chính nhân dân đã tạo ra truyền thống lịch
sử quý báu của dân tộc
+ Cụm từ người người lớp lớp biểu trưng cho sức
mạnh của nhân dân, sự hóa thân của nhân dân. Trong
đó, nhà thơ đặc biệt chú ý đến hình ảnhCon gái-con
trai bằng tuổi chúng ta . Đó là tuổi trẻ, là thế hệ Gánh
vác phần người đi trước để lại- Dặn dò con cháu
chuyện mai sau, là những con người cần cù trong lao
động, anh dũng trong chiến đấu.
+ Nhà thơ ca ngợi sự hóa thân của nhân dân để làm
nên bốn nghìn năm Đất Nước bằng việc nhắc đến
những tấm gương anh hùng cả anh và em đều nhớ .
Nhưng nhà thơ quan tâm nhiều hơn đến. Biết bao
người con gái con trai/ Trong bốn nghìn lớp người
giống ta lứa tuổi/ Họ đã sống và chết / Giản dị và
bình tâm .Đó là sự hi sinh thầm lặng của biết bao con
người bình dị vô danh.
+ Những con người vô danh và bình dị ấy dành cả
cuộc đời để chiến đấu cho độc lập tự do : có ngoại
xâm thì chống ngoại xâm, có nội thù thì vùng lên đánh
bại
+ Hi sinh lớn lao là vậy, nhưng những từ ngữ đối
lập Sống – chết , Giản dị – Bình tâm đặt trong hai
câu thơ ngắn gọn, nhẹ tênh, hoàn toàn khác so với
nhưng dòng thơ dài gợi nhớ công lao của họ đã khẳng
định sự hiến dâng ấy hoàn toàn vì lí tưởng chung của

dị mà hiên ngang, bất khuất
của cả núi sông, dân tộc:
Sống vững chãi bốn nghìn
năm lịch sử
Lưng đeo gươm tay mềm mại
bút hoa
Trong và thực sáng hai bờ tư
tưởng
Sống hiên ngang mà nhân ái
chan hòa
(Huy Cận)
Chế Lan Viên nhìn đất nước
qua những trang sử hào hùng:
“Hỡisông Hồng tiếng hát bốn
nghìn năm
Tổ Quốc bao giờ đẹp thế này
chăng?
– Chưa đâu! Và ngay cả trong
những ngày đẹp nhất
Khi Nguyễn Trãi làm thơ và
đánh giặc
Nguyễn Du viết Kiều, đất
nước hoá thành văn
Khi Nguyễn Huệ cỡi voi vào
cửa Bắc
Hưng Đạo diệt quân Nguyên
trong sóng Bạch Đằng”.
(“Tổ Quốc bao giờ đẹp thế
này chăng?”)

cả cộng đồng. Đó là một sự hi sinh nhẹ nhàng thanh
thản và giản đơn vô ngần.
àNguyễn Khoa Điềm đã tổng kết lịch sử bằng vai trò
của vô càn những con người bình dị, vô danh. Bằng
cách đó nhà thơ đã trả lại cho Đất Nước người chủ
nhân chân chính. Đây là cảm quan lịch sử mới về vai
trò của Nhân dân, bắt nguồn từ hệ tư tưởng mới quan
niệm Nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử:
Không ai nhớ mặt đặt tên
Nhưng họ đã làm ra Đất Nước
NHÂN DÂN LÀ NGƢỜI LÀM NÊN CHIỀU SÂU
VĂN HÓA DÂN TỘC:
– Nhân dân còn giữ gìn và truyền lại cho các thế hệ
sau mọi giá trị văn hóa, văn minh tinh thần và vật chất
của đất nước, của dân tộc: hạt lúa, ngọn lửa, tiếng
nói, ngôn ngữ dân tộc, cả tên xã tên làng... Như vậy,
hình tượng nhân dân ở đoạn thơ này được xây dựng
theo lối khái quát hóa, tập hợp hóa. Để biểu đạt ý thơ
này, tác giả sử dụng đại từ nhân xưng “Họ” để chỉ
chung cho nhiều người, chỉ tập thể, cả dân tộc. Đại từ
„Họ‟ ở đây có thêm sắc thái biểu cảm mới. Đó là sự
hiện diện của nhân dân qua tất cả các thời kì lịch sử,
thế hệ này nối tiếp thể hệ kia, cầm trong tay ngọn
đuốc sức sốngViệt Nam và khi hết vai trò, họ truyền
lại cho thế hệ kế tiếp:
+ Truyền hạt lúa: truyền lại thành tựu của nền văn
minh lúa nước, gieo mần sức sống cho con cháu mai
sau.
+ Chuyền lửa: chuyền ánh sáng, hơi ấm và sức sống.
Khởi nguồn của sức sông con người chính là lửa ấm.
Lửa giúp con người thắp sáng, nấu chín thức ăn và
đặc biệt là xua tan không gian lạnh lẽo, giúp
con người xích lại gần nhau, thêm yêu thương và
chan hòa với nhau hơn.

Nguyễn Khoa Điềm nhấn
mạnh vai trò của 4000 lớp
người vô danh và bình dị:
Đó có thể là:
Anh là chiến sỹ Giải phóng
quân.
Tên Anh đã thành tên đất
nước
Ôi anh Giải phóng quân!
Từ dáng đứng của Anh giữa
đường băng Tân Sơn Nhất
Tổ quốc bay lên bát ngát mùa
xuân
(Dáng đứng Việt Nam)
Trái tim em trái tim vĩ đại
Còn một giọt máu tươi còn
đập mãi
Không phải cho em. Cho lẽ
phải trên đời
Cho quê hương em. Cho Tổ
quốc, loài người!
(Người con gái Việt Nam)

+·Bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc chính là ngôn ngữ
của dân tộc đó. Chính vì thế Cha anh đi trước truyền
giọng điệu, tiếng nói cho con cháu mai sau.
·+ Họ sáng tạo ra những địa danh, tên xã, tên làng đã
đi vào lịch sử. Họ dắp đập, ke bờ chính là xây dựng
nền tảng vật chất và tinh thần để đời sau kế thừa thành
quả.
·+ Khi giặc đến họ vùng lên đấu tranh anh dũng , có
nội thù thì đánh bại và bảo vệ cuộc sống bình yên. Đó
là lòng yêu nước, tình thần quả cảm mà thế hệ đi
trước đã truyền lại cho chúng ta.
àSự tiến hóa của lịch sử giống như 1 cuộc lao động
lớn, một cuộc chạy tiếp sức không mệt mỏi của nhân
dân để lưu truyền mãi ngọn lửa văn hóa của các thế
hệ. Nhân dân đem cả cuộc đời mình ra để xây dựng,
phát triển và lưu truyền mọi giá trị vật chất, tinh thần
cho con cháu nghìn đời. Cứ thế lịch sử dân tộc được
nối dài, sức sống đất nước được duy trì và phát triển
bới bao thế hệ, những con người vô danh, bình dị ,
không ai nhớ mặt đặt tên nhưng họ làm nên đất nước
muôn đời... Âm hưởng của đoạn thơ trang trọng hào
hùng như những lời âm vang của lịch sử để ngợi ca
truyền thống dân tộc. Đặt trong bối cảnh đất nước có
giặc ngoại xâm thì tự hào về truyền thống dân tộc
là biểu hiện sâu sắc tình yêu nước.
Từ những mạch suy tưởng trên dẫn đến tư tưởng
trung tâm của đoạn trích và cũng là của cả bản trường
ca “Đất nước này là Đất nước của Nhân dân”. Và khi
nói đến Đất nước của Nhân dân, một cách tự nhiên,
tác giả trở về với cội nguồn phong phú đẹp đẽ của văn
hóa, văn học dân gian mà tiêu biểu là ca dao. Vẻ đẹp
tinh thần của nhân dân, hơn đâu hết, có thể tìm thấy
trong ca dao, dân ca, truyện cổ tích: Đất nước của ca
dao thần thoại”. Trong cả kho tàng ca dao, dân ca, tác
giả chỉ chọn lọc ba câu để nói về ba phương diện quan
trọng nhất của truyền thống dân tộc:

Đứng trước thác lũ của dòng
chảy thời đại , trước ngưỡng
định mệnh của dân tộc những
năm 1974-1975, ta thấy chưa
bao giờ như bây giờ, vai trò
của nhân dân lại to lớn đến
thế, chưa bao giờ như bây giờ
những sự hi sinh lại lớn lao